KHỞI NGHIỆP ĐBSCL CÒN NHIỀU KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC


2016 được xem là năm Khởi nghiệp quốc gia. Cũng như những vùng khác của Việt Nam, làn sóng khởi nghiệp (KN) tại ĐBSCL xuất phát từ thực tế khách quan và đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức.

Theo phân tích của các chuyên gia, nhu cầu khởi nghiệp vùng ĐBSCL khởi nguồn từ sự phát triển không ngừng của xã hội và từ nhu cầu phát triển của người dân địa phương. Để thúc đẩy sự đi lên không ngừng, đáp ứng những tiêu chuẩn đời sống tốt hơn của con người, nền kinh tế phải phát triển. Do đó, sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là những doanh nghiệp trẻ với ý tưởng táo bạo, mới mẻ là không thể thiếu. Đây là xu thế chung của một xã hội hiện đại.

Nhu cầu khởi nghiệp trên thực tế còn mang tính chất kế thừa và thay thế. Nguyên do, hàng năm, sẽ có một số lượng doanh nghiệp nhất định bị giải thể, phá sản, và những doanh nghiệp mới, năng động hơn được hình thành sẽ thay thế cho những doanh nghiệp cũ đã rời khỏi thị trường. Riêng khu vực ĐBSCL, vùng đất có truyền thống nông nghiệp lâu đời, việc khởi sự kinh doanh còn giúp một bộ phận người lao động tiếp cận với phương thức làm việc mới, khoa học hơn, tránh được điệp khúc “Được mùa mất giá” trong ngành nông nghiệp.

Thực trạng và những khó khăn

Thật ra, những con sóng khởi nghiệp đầu tiên đã đến ĐBSCL từ cách đây 17 năm. Vào năm 1999, Dự án hỗ trợ phát triển của Đan Mạch gọi tắt là Danida được triển khai thành công, góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng một lớp doanh nghiệp mới trong vùng lúc bấy giờ.

Liên tiếp những năm sau đó, Chương trình “Khởi sự doanh nghiệp, Tăng cường khả năng kinh doanh – Start and Improve Your Business” (SIYB) do VCCI phối hợp cùng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) khởi xướng tại 43 tỉnh/thành trên cả nước, trong đó có 13 địa phương vùng ĐBSCL thông qua hình thức các khóa học đã đào tạo được không ít giảng viên nguồn, các doanh nhân cho đồng bằng.

Từ thành công ban đầu, SIYB sau đó được lồng ghép vào nhiều dự án như CARE, PRISED, TRIAS, SIYB on the AIR… nhằm thúc đẩy khởi nghiệp cũng như tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, phong trào khởi nghiệp giai đoạn này chỉ dừng lại ở mức phổ cập kiến thức kinh doanh trong vùng chứ chưa có một sự hỗ trợ chuyên sâu nào cho các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Trong 3 năm gần đây, phong trào khởi nghiệp tại đồng bằng mới thực sự tạo nên một làn sóng và nâng lên tầm cao mới. Nhiều địa phương, tổ chức đã đầu tư hỗ trợ khởi nghiệp thể hiện qua sự xuất hiện của các vườn ươm doanh nghiệp như: Vườn ươm Doanh nghiệp ĐH Cần Thơ (2012), Vườn ươm Doanh nghiệp Sóc Trăng (SBI) (2014) và Vườn ươm Doanh nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc (KVIP) (2015). “Đặc biệt, Bến Tre là địa phương đầu tiên trong vùng đã đưa nhiệm vụ thúc đẩy khởi nghiệp vào chương trình hoạt động chính thức của tỉnh”, ông Nguyễn Trúc Sơn, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bến Tre cho biết. Theo ghi nhận, hiện một số trường nghề trong vùng (phối hợp cùng Đoàn Thanh niên) đã có chương trình đào tạo khởi nghiệp theo ngành, phục vụ nhu cầu phát triển địa phương.

Dù vậy, hoạt động khởi nghiệp tại ĐBSCL được đánh giá là chưa đạt kỳ vọng. Theo bà Nguyễn Thị Thương Linh, Phó Giám đốc VCCI Cần Thơ: “Bức tranh khởi nghiệp trong vùng hiện còn rất chấp vá và rời rạc. Sở dĩ nó chưa được hoàn chỉnh là do không có một sự kết nối hiệu quả, có hệ thống từ nhiều cơ quan hữu quan”. Trên thực tế, “Các trường làm một kiểu, Đoàn Thanh niên một kiểu, các NGOs hỗ trợ khởi nghiệp kiểu khác trong khi mỗi địa phương cũng có cách làm của riêng họ…”. Từ đó cho thấy, để hoạt động khởi nghiệp thực sự đi vào chiều sâu, đòi hỏi các cơ quan, ban ngành phải thống nhất trong xây dựng chính sách cũng như nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Nguyên nhân và đề xuất

Theo phân tích của VCCI Cần Thơ, có 4 trở ngại chính gây khó cho quá trình khởi nghiệp khu vực ĐBSCL. Trước hết, do đặc thù nền kinh tế vùng từ lâu dựa chủ yếu vào nông nghiệp nên yếu tố rủi ro thời vụ cao. Hàm lượng trí tuệ trong các sản phẩm nông nghiệp truyền thống cũng thấp, lâu dần làm giảm tính sáng tạo trong các ý tưởng khởi nghiệp. Những điều này khiến các nhà đầu tư cảm thấy không mặn mà để bỏ vốn do lo ngại về khả năng thu hồi, chưa nói đến việc sinh lợi về sau.

Yếu tố khách quan khác là người dân đồng bằng đang thiếu sự nhạy bén trong kinh doanh. “Một phần vì người dân trong vùng còn nghèo, trình độ và tay nghề cũng thấp. Thêm nữa, do là vùng nông nghiệp truyền thống nên nhiều người còn tâm lý an nhàn, sợ rủi ro dẫn đến không dám mạo hiểm”, bà Nguyễn Thị Thương Linh nhận xét.

Bên cạnh đó, còn có những khó khăn về mặt môi trường vĩ mô làm chậm làn sóng khởi nghiệp trong khu vực. Việc môi trường pháp lý chưa rõ ràng, đầy đủ làm nhiều người muốn khởi nghiệp chưa mạnh dạn sáng tạo, các nhà đầu tư cũng không an tâm rót vốn. Cụ thể, các kết quả khảo sát doanh nghiệp thời gian gần đây do VCCI Cần Thơ thực hiện cho thấy, để thúc đẩy khởi nghiệp, cần thiết có những chính sách đơn giản hóa thủ tục đăng ký sở hữu trí tuệ; hỗ trợ tín dụng cho các ý tưởng khởi nghiệp táo bạo cũng như các tỉnh/thành đồng bằng nên đưa ra những chương trình hỗ trợ chính thức đối với hoạt động khởi nghiệp (hiện mới chỉ có 1/13 địa phương ĐBSCL có nội dung thúc đẩy khởi nghiệp doanh nghiệp trong chương trình hoạt động của tỉnh).

Ngoài ra, hoạt động khởi nghiệp cũng gặp phải một số trở ngại chủ quan đến từ chính doanh nghiệp và những người trẻ tuổi trong vùng. Theo quan điểm của bà Nguyễn Thị Thương Linh, Phó Giám đốc VCCI Cần Thơ, thanh niên ĐBSCL không có đam mê kinh doanh, thiếu cả sáng tạo lẫn sự tự tin để khởi nghiệp (do nội dung khởi nghiệp không được giảng dạy chính thức trong chương trình học). Từ đó, những người này tỏ ra kém nhạy bén, không nhận diện được cơ hội khởi sự kinh doanh. Cũng theo bà Thương Linh: “Đúng là hàng năm, có nhiều doanh nghiệp mới hình thành; tuy nhiên, số lượng này từ đâu ra!? Có đến 30% là các doanh nghiệp chuyển đổi, giải thể sau đó mở cửa trở lại”.

Để tháo gỡ khó khăn, giúp tăng cường cả về chất lượng lẫn số lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp ĐBSCL thời gian tới, nhiều ý kiến cho rằng cần giải quyết 3 nhóm vấn đề cốt lõi gồm: (1) Đáp ứng nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp từ nhiều khía cạnh; (2) Tăng cường sự hỗ trợ về kỹ thuật cho doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt từ các chuyên gia; (3) Các cơ quan, ban ngành cần liên kết trong hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp cũng như đưa ra những chính sách thúc đẩy khởi nghiệp trên phương diện vĩ mô.

Thực hiện: Lạc Long