Kinh tế ĐBSCL 6 tháng đầu năm 2018 - cơ hội mới từ CPTPP và sự nổi lên của thị trường Trung Quốc


Sáng ngày 25/7/2018, hội thảo “Kinh tế ĐBSCL 6 tháng đầu năm 2018 - cơ hội mới từ CPTPP và sự nổi lên của thị trường Trung Quốc” đã được tổ chức với sự tham dự của ban lãnh đạo các đơn vị doanh nghiệp, đại diện sở ban ngành các địa phương và các cơ quan báo đài đến đưa tin.

Mở đầu là phần phát biểu của Ông Nguyễn Phương Lam – Phó Giám đốc phụ trách VCCI Cần Thơ, theo ông sự đầu tư của các nước vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm có sự thay đổi với quốc gia đầu tư lớn nhất vào Việt Nam là Nhật Bản với 5,5 tỷ USD; kế đến là Hàn Quốc (3,1 tỷ USD); Thái Lan (trên 60 triệu USD), qua cuộc khảo sát doanh nghiệp mà VCCI Cần Thơ thực hiện có những thông tin quan trọng về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp có xu hướng ổn định và tốt hơn cụ thể có 41,9% DN đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với năm 2017; 45,2% DN đánh giá tình hình kinh doanh ổn định; chỉ có 12,9% DN đánh giá tình hình xấu hơn. Khởi nghiệp là vấn đề doanh nghiệp đang rất quan tâm và có 61,3% DN quan tâm đến các hoạt động khởi nghiệp do VCCI Cần Thơ tổ chức và mong muốn được tham gia các hoạt động kết nối doanh nghiệp.

Trong đó, khảo sát chỉ ra, doanh nghiệp sản xuất tốt hơn là nhờ có sự chuẩn bị trước về giải pháp, chiến lược; tập trung vào sản phẩm chất lượng cao; tái cơ cấu ngành nông nghiệp có sự tác động tích cực. Đối với nhóm doanh nghiệp có kết quả sản xuất kinh doanh kém là do nguyên liệu biến động, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, giá nguyên liệu tăng trong khi giá đầu ra bị cạnh tranh gay gắt không tăng. Ví dụ, nhóm ngành thủy sản gặp nhiều khó khăn do các nước nhập khẩu tăng cường hàng rào phi thuế quan, hạn chế nhập khẩu. Tuy nhiên, đa số doanh nghiệp có cảm nhận môi trường đầu tư kinh doanh trong những tháng cuối năm sẽ ổn định với mức tốt hơn và gần 90% doanh nghiệp được khảo sát kỳ vọng công việc làm ăn sẽ thuận lợi hơn. Trong đó, gần 20% cho biết sẽ mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong những tháng cuối năm.

Ông Nguyễn Phương Lam – Phó Giám đốc Phụ trách VCCI Cần Thơ phát biểu tại Hội thảo

Hội thảo lần mang nhiều thông tin liên quan đến 16  Hiệp định FTA được ký kết giữa Việt Nam và các nước trong khu vực được chia sẻ bởi Bà Phùng Thị Lan Phương –Trưởng phòng FTA, Trung tâm WTO và Hội nhập. Bà cũng giới thiệu tổng quan về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có 11 nước tham gia ký kết và đã được 3 nước phê chuẩn, nhấn mạnh ý nghĩa của CPTPP đối với doanh nghiệp Việt Nam nói chung và với doanh nghiệp ĐBSCL nói riêng trong tình hình hội nhập hiện nay.

Bà Phùng Thị Lan Phương – Trung tâm WTO và Hội nhập

Đặc biệt trong hội thảo lần này, là trình bày của TS. Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), ông cho rằng thị trường Trung Quốc  có tầm quan trọng và sức ảnh hưởng lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trung Quốc luôn nằm trong top các quốc gia đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam với hàng trăm nghìn DN đang làm ăn với Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc còn là nước xuất siêu lớn nhất sang VN với trung bình 100 USD xuất sang VN thì có khoảng 10 – 20 USD đến từ Trung Quốc. 

Việt Nam cần đa dạng hóa phát triển công nghiệp hỗ trợ; thu hút các liên doanh các nhà đầu tư nước ngoài như Eu, Hàn Quốc, Nhật Bản. Như vậy sẽ làm giảm sự ảnh hưởng của với Trung Quốc và mở rộng được sang các thị trường khác. Bên cạnh đó, ông cũng phân tích về những rủi ro đối với kinh tế VN, thứ nhất là về Cấu trúc thương mại của Việt Nam, ví dụ về con cá tra; rủi ro tiếp theo là rủi ro xuất khẩu chính ngạch gây thiệt hại cho người xuất khẩu; rủi ro về giá khi Trung Quốc cố gắng chuyển đổi dòng tiền; rủi ro về chiến tranh thương mại dưới góc nhìn kinh tế và đó cũng là sự tranh chấp giữa các nước lớn với sự nổi lên của Trung Quốc.

TS. Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM)

Hội thảo kết thúc với phần thảo luận đặt câu hỏi với các chuyên gia xoay quanh những vấn đề đang được các doanh nghiệp quan tâm về các Hiệp định FTA, thuế suất và nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa khi xuất khẩu sang các nước khác.