Xây dựng chuỗi giá trị cá tra cần nhiều giải pháp đồng bộ

Xúc tiến | Sự kiện | Hội thảo | 31/12/2015 01:19 GMT+7 | VCCI Cần Thơ

Trong những năm gần đây, ngành cá tra Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng cũng như đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện chuỗi giá trị cá tra, nhiều chuyên gia trong ngành nhận định: “vẫn còn một số thách thức lớn cần giải quyết từ khâu sản xuất giống đến tiêu thụ sản phẩm”.

Thách thức đối với chuỗi giá trị cá tra

Phát biểu tại Hội thảo Công bố kết quả khảo sát hoạt động phân tích, nghiên cứu chuỗi giá trị thủy sản vừa diễn ra tại Cần Thơ, ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc VCCI Cần Thơ kiêm Phó Chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam (VNPA) cho rằng: “Trong quá trình nghiên cứu của hiệp hội, chúng tôi phát hiện ra hầu hết các khâu trong chuỗi giá trị ngành cá tra hiện tại đang gặp vấn đề”.

Theo nhận xét của ông Võ Hùng Dũng, hiện tại, chuỗi ngành hàng đang đối mặt với những khó khăn từ khâu giống đầu vào, khâu nuôi – chế biến cho đến thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Về khâu giống, theo công bố của VNPA, con giống hiện nay có chất lượng thấp, tỷ lệ sống sót không cao. Qua khảo sát tại các vùng nuôi ở ĐBSCL cho thấy, công tác sản xuất giống đúng chất lượng chưa được các hộ nông dân chú trọng. Trong số hàng trăm cơ sở sản xuất cá giống tại ĐBSCL, hiện mới chỉ có duy nhất một trang trại đạt tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt toàn cầu (Global Gap).

Theo ông Dũng: “Tỷ lệ cá chết lên đến 90% trong quá trình ương nuôi từ cá bột lên cá hương cho đến khi phát triển đủ lớn thành cá giống để đưa vào ao nuôi thương phẩm”. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được cho là thiếu nghiên cứu, đầu tư phòng chống dịch bệnh trong khâu sản xuất giống cũng như vấn đề lạm dụng kháng sinh đối với con giống.

Đối với khu vực nuôi, chế biến cá tra thương phẩm, nhiều bất cập vẫn đang tiếp tục phát sinh và tồn tại. Cụ thể, tại các vùng nuôi, một bộ phận người dân tự ý thả nuôi ồ ạt, không theo quy hoạch dẫn tới trình trạng sản phẩm thừa, khó bán phải “treo ao” hoặc nuôi cầm chừng.

Theo tài liệu đã được công bố của Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Dịch vụ và Phát triển cộng đồng nông ngư nghiệp Việt Nam (FACOD) tại Hội thảo Ứng dụng Công nghệ sáng tạo trong phát triển nông nghiệp xanh tổ chức tại Cần Thơ cuối năm 2015, mật độ nuôi dày đặc, công tác kiểm soát dịch bệnh và tiến hành xử lý môi trường ao nuôi chưa tốt cũng khiến bệnh trên cá bộc phát và lây lan nhanh. Một số vi khuẩn mới, khá phổ biến như Edwardsiella ictaluri gây bệnh gan - thận mủ hay khuẩn Aeromonas hydrophila gây bệnh phù đầu, xuất huyết có thể làm tỷ lệ cá chết trong ao nuôi lên đến hơn 50%.

Còn ở khâu chế biến, “Thay vì hội nhập dọc theo chuỗi để phát triển thị trường, cạnh tranh với nước ngoài, các nhà máy chế biến lại mở rộng vùng nuôi, tự sản xuất thức ăn, gia tăng cạnh tranh ngược lại trong nước làm suy giảm lợi nhuận ngành”, ông Võ Hùng Dũng cho hay.

Một khó khăn nữa của ngành cá tra là vấn đề thị trường tiêu thụ đang bị cạnh tranh ngày một gay gắt và nhiều rào cản kỹ thuật mới được đặt ra. Theo ước tính của VNPA, tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra 2015 có chiều hướng giảm so năm 2014. Tính đến đầu quý IV/2015, kim ngạch đạt khoảng 1,3 tỷ USD, giảm 10% so cùng kỳ. Xuất khẩu sang một số thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Nga suy giảm trong khi các thị trường mới gồm Trung Quốc, Hongkong lại có sự tăng trưởng.

Theo thông tin ghi nhận được, Bộ Nông nghiệp Mỹ (FSIS) quyết định triển khai Chương trình Giám sát cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ trong khuôn khổ đạo luật Farm Bill. Theo đó, để tiếp tục được nhập khẩu vào thị trường Mỹ, FSIS quy định rất nghiệm ngặt việc kiểm soát từng công đoạn trong chuỗi giá trị từ khâu sản xuất giống, thức ăn, kiểm tra dư lượng kháng sinh đến chế biến, vận chuyển và đưa ra tiêu thụ… Những quy định ngặt nghèo như vậy làm tăng đáng kể chi phí đầu vào cho các hộ nuôi tại ĐBSCL.

Cần phối hợp nhiều giải pháp đồng bộ

Để giải quyết thực trạng này, các chuyên gia trong ngành đề xuất cần quy hoạch lại vùng nuôi, chế biến cá tra ở ĐBSCL cũng như đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Trong đó, chú trọng đến các hoạt động sản xuất con giống; bảo đảm hài hòa lợi ích theo chuỗi giá trị từ người tiêu dùng đến các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, xuất khẩu và công nghiệp phụ trợ cho ngành hàng cá tra.

Theo ý kiến của bà Võ Thị Thu Hương, Phó Tổng thư ký VNPA: “Để hoàn thiện chuỗi giá trị ngành hàng, cần phải chú trọng từ khâu giống vì con giống tốt mới cho ra cá thương phẩm có chất lượng, giảm tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi giúp người nông dân tiết kiệm chi phí”. Bên cạnh đó, bà Hương cũng cho rằng cần phải thiết lập ngưỡng tối thiểu đối với chất lượng sản phẩm cá tra chế biến để tránh xu hướng “giá thấp thì chất lượng thấp” sẽ đẩy thị trường cá tra vào nguy cơ suy yếu.

Dựa trên diễn biến giá cả thị trường gần đây, nhiều ý kiến cho rằng trong những năm tới, không nên đầu tư các cơ sở chế biến cá phi lê đông lạnh nữa mà chuyển sang thúc đẩy chế biến nhiều sản phẩm cao cấp đóng gói để tăng giá trị cho con cá tra, đưa đời sống hộ sản xuất và kinh tế doanh nghiệp đi lên.

Ngoài ra, đa dạng hóa các thị trường tiêu thụ sản phẩm, không để phụ thuộc quá nhiều vào một vài thị trường chính (khi bị áp đặt các rào cản hoặc thị trường đó đi xuống) cũng là việc làm mà các cơ quan quản lý nhà nước cùng các doanh nghiệp và đơn vị có liên quan cần quan tâm thực hiện trong quá trình tái cấu trúc lại ngành cá tra.

Về phía nhà nước, cũng cần hỗ trợ doanh nghiệp, các hộ nông dân xây dựng vùng nuôi, hỗ trợ kinh phí để duy trì, cấp giấy chứng nhận chất lượng cũng như hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chuỗi siêu thị bán hàng ở nước nhập khẩu để tiếp thị sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng. Trên thực tế đây là điều mà bản thân các doanh nghiệp lẫn hộ nuôi không đủ lực để tự thực hiện nên rất cần có sự trợ lực từ các đơn vị chuyên môn và cơ quan nhà nước.

Với vai trò là đơn vị chuyên môn hỗ trợ hoạt động xây dựng chuỗi ngành cá, đại diện VNPA cho biết: “Hiệp hội sẽ kiến nghị với các bộ ngành ban hành những chính sách thúc đẩy quá trình hình thành sự liên kết chuỗi giá trị bền vững cũng như giúp đỡ về kỹ thuật cho các vùng nuôi, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá”.

Dưới góc độ chuyên môn, bà Võ Thị Thu Hương, Phó Tổng thư ký VNPA cho rằng việc tiến tới thực hành ứng dụng các tiêu chuẩn cho vùng nuôi như Viet Gap, Global Gap, BAP, ASC là bước đi cần thiết để đưa nghề nuôi trồng, chế biến thủy sản Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng vào khuôn khổ, nhằm xây dựng và bảo vệ uy tín ngành thủy sản trên trường quốc tế. Điều này càng trở nên cấp thiết khi ngành hàng đang phải đối mặt với những rào cản kỹ thuật ngày càng ngặt nghèo từ các thị trường nhập khẩu khó tính.

Thực hiện: Lạc Long